Đột quỵ và những điều cần biết

Đột quỵ là một loại bệnh tác động lên các động mạch đến não và trong não. Đột quỵ nằm trong nhóm 4 nguyên nhân tử vong hàng đầu và là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu tại Mỹ.

1. Đột quỵ là gì?

Đột quỵ là một loại bệnh tác động lên các động mạch đến não và trong não. Đột quỵ nằm trong nhóm 4 nguyên nhân tử vong hàng đầu và là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu tại Mỹ.

Đột quỵ xảy ra có nguyên nhân là do gián đoạn quá trình cung cấp máu lên não, thường là do một mạch bị vỡ hoặc mạch máu bị tắt nghẽn do tồn tại huyết khối trong dòng chảy, làm gián đoạn nguồn cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đến nuôi não. Khi đột quỵ xảy đến, một phần não không thể nhận được máu và oxy cần thiết để duy trì hoạt động thì các tế bào não của phần não đó sẽ bị chết đi.

Theo thống kê, có khoảng 795.000 người Mỹ bị đột quỵ hoặc tái đột quỵ mỗi năm. Điều đó có nghĩa là trung bình cứ 40 giây trên nước Mỹ lại có một cơn đột quỵ xảy ra. Theo số liệu thống kê của WHO (Tổ chức y tế thế giới), tuy có biến thiên tùy theo mức độ thu nhập của nhóm dân số được khảo sát, tuy nhiên, đột quỵ luôn thuộc top 4 các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới.

Trung bình cứ mỗi 4 phút sẽ có một người tử vong do đột quỵ. Nguyên nhân tử vong do đột quỵ chiếm 60% ở nữ giới và 40% ở nam giới.

2. Có bao nhiêu dạng đột quỵ?

Đột quỵ được phân loại theo nguyên nhân gây ra:

Đột quỵ do thiếu máu não cục bộ: Khối máu đông gây cản trở dòng chảy của máu lên não. Nguyên nhân này thường chiếm 87% trong các ca đột quỵ.

Đột quỵ do xuất huyết máu não: Mạch máu trong não vốn đã suy yếu và bị vỡ và làm cản trở máu lưu thông đến não. Những dạng mạch máu suy yếu thường gây ra đột quỵ xuất huyết máu não là chứng phình động mạch và các dị tật động tĩnh mạch. Tuy nhiên, nguyên nhân thường gặp nhất gây ra đột quỵ dạng này là do chứng tăng huyết áp không kiểm soát.

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA = Transient ischemic attack): Dạng này thường được gọi là đột quỵ nhẹ, gây ra do một cục máu đông hiện hữu tạm thời trong mạch máu não. Dạng đột quỵ này cần được đề cao chú ý.

Ngăn ngừa và phát hiện đột quỵ

Cơn đột quỵ xảy ra khi một mạch máu trong não bị vỡ hoặc bị cục máu đông làm tắt nghẽn. Đột quỵ được điều trị bằng cách làm khơi thông chỗ tắt nghẽn hoặc chữa trị đoạn mạch bị vỡ. Trong thập kỷ qua, những tiến bộ trong y khoa đã cải thiện đáng kể tỉ lệ sống sót trong điều trị đột quỵ. Tuy nhiên, cơ hội sống sót sẽ cao hơn nếu đột quỵ được xác định và điều trị ngay lập tức. Dưới đây là thông tin về một số cách có thể dể ngăn ngừa và điều trị đột quỵ.

Ngăn ngừa đột quỵ:

Tin tốt lành là 80% các cơn đột quỵ có thể được ngăn chặn. Để ngăn chặn đột quỵ, đầu tiên là phải kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ chính yếu, bao gồm cao huyết áp, hút thuốc, chứng rung tâm nhĩ và chứng lười vận động. Thực tế cho thấy có hơn một nữa các cơn đột quỵ gây ra do chứng tăng huyết áp không kiểm soát, khiến bệnh tăng huyết áp trở thành một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất cần kiểm soát để ngăn chặn đột quỵ.

Khi đột quỵ xảy ra, điều trị nhanh có thể cứu sống được tính mạng:

Các phương pháp điều trị đột quỵ cũng đi vào giải quyết các nguyên nhân đột quỵ. Các cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ dẫn lên não chiếm 87% ca đột quỵ. Vì đột quỵ dạng này gây ra do các mảng mỡ hoặc máu đông làm ách tắc lưu thông máu lên não nên các phương pháp điều trị cũng tập trung vào việc “giải tỏa các ách tắc này”. Tương tự đối với ột quỵ do xuất huyết, các phương pháp điều trị sẽ tập trung vào mục đích ngăn chặn và làm dừng xuất huyết.

Khi chẳng may bị đột quỵ, nếu được phát hiện và điều trị kịp thời có thể giúp giảm đến mức thấp nhất các hậu quả lâu dài do đột quỵ gây ra và có thể giúp tránh được tử vong. Bên dưới là những dấu hiệu (F-A-S-T) cần được phát hiện:

Méo mặt (Face Drooping): mặt bị méo hoặc chảy xệ xuống một bên hoặc tê cứng. Gương mặ không đồng đều khi cười.
Tay yếu (Arm Weakness): một bên tay bị yếu hoặc tê cứng, không giơ cao được.
Khó nói chuyện (Speech Difficulty): nói lắp. líu lưỡi, khó phát âm, không lặp lại được nguyên văn kể cả đối với một câu đơn giản.
Khi một người có biểu hiện 01 trong 03 triệu chứng trên, thậm chí triệu chứng đó không còn thì thời gian (Time) là yếu tố quan trọng: Hãy ghi nhớ thời gian xảy ra triệu chứng đầu tiên và nhanh chóng đưa họ vào bệnh viện.
Hãy ghi nhớ F-A-S-T, tuy nhiên, ngoài ra cũng còn có những triệu chứng khác gồm: đột ngột bị tê hoặc bị yếu tay, chân hoặc mặt; đột ngột có cảm giác khó hiểu, khó khăn khi muốn hiểu một vấn đề nào đó; đột ngột giảm thị lực và khó nhìn thấy ở một hoặc cả hai bên mắt; đột ngột khó đi đứng, hoa mắt, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc khó phối hợp hoạt động tay chân; đột ngột bị đau đầu trầm trọng mà không rõ nguyên do.

Chế độ ăn uống giúp ngăn chặn và phòng ngừa tái đột quỵ

Thói quen ăn uống có thể giúp bạn giảm 03 nguy cơ đột quỵ: Cholesterol cao (mỡ máu cao), huyết áp cao, thừa cân. Tổ chức tim mạch và đột quỵ Hoa Kỳ đã đưa ra các khuyến nghị ăn uống khỏe mạnh:

Ăn nhiều rau củ và trái cây
Ăn các thực phẩm giàu chất xơ và ngũ cốc nguyên hạt
Ăn cá ít nhất 2 lần/tuần
Hạn chế các thực phẩm có chứa nhiều cholesterol, nhiều chất béo bão hòa (saturated fat) và nhiều chất béo chuyển hóa (trans fat).
Hãy lựa chọn phần nạt của thịt gia súc và gia cầm, không dùng các chất béo bão hòa hoặc chất béo chuyển hóa để sơ chế hoặc chế biến.
Sử dụng các sản phẩm sữa không có hoặc có ít chất béo.
Hạn chế cho thêm đường vào thức ăn và nước uống.
Dùng ít muối trong sơ chế và chế biến thức ăn.
Nếu có sử dụng bia rượu, hãy hạn chế xuống khoảng 1 ly mỗi ngày nếu là nữ (không mang thai) hoặc 2 ly mỗi ngày nếu là nam.
Hạn chế ăn ngoài, hoặc nếu ăn ngoài thì hãy lựa chọn một thực đơn tốt cho sức khỏe.
Khuyến khích chuẩn bị bữa ăn để đảm bảo kiểm soát được các yếu tố dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe.
Cập nhật kiến thức và thông tin về dinh dưỡng ví dụ như cách đọc các thành phần trên nhãn thực phẩm

Back to Top
error: Vui lòng không sao chép nội dung ! Cảm ơn.